TIẾNG CA THÂN QUEN…
by on January 16, 2015 in Articles

Vào năm 1974, tôi dù đã 36 tuổi rồi, nhưng theo lời khuyến khích của nhà văn nữ Trùng Dương, ghi tên vào khóa 2 của phân khoa điện ảnh trường Đại Học Minh Đức. Thuở đó, trường có 3 ngôi sao: Nhà văn nữ Trùng Dương, tài tử Bảo Ân, học lớp năm thứ 2 của phân khoa điện ảnh, và ca sĩ Trọng Nghĩa, học khóa 2 của phân khoa Triết học. Cả 3 được biết bao sinh viên ngưỡng mộ, và đến vây quanh để trò chuyện. Riêng tôi, tuy là một nhà văn thất bại, lại nhào qua làm ký giả quèn, nhưng tôi cũng có cái độc đáo đấy chứ. Trong lúc các sinh viên, các người học dự thính đều mặc thường phục thì tôi mặc quân phục. Nhưng chẳng ai thèm lân la tới tôi, để trò chuyện cùng tôi.

Thuở đó, Trọng Nghĩa vẫn là một ngôi sao ca nhạc, dù anh mới chân ướt chân ráo bước vào ca trường nhạc giới. Trong hàng ngũ các ca sĩ trẻ, thì 2 nữ ca sĩ Thanh Lan và Thanh Mai, là thần tượng của các nam sinh, còn Trọng Nghĩa và Nguyễn Chánh Tín, là thần tượng của các nữ sinh. Cũng thuở đó, Trọng Nghĩa đậu Tú Tài, lại là sinh viên phân khoa Triết học. Bằng cách phát âm tiếng Pháp thật rựa ràng, anh hát những bài hát nổi danh trên xứ Pháp, đã từng được nam danh ca Charles Aznavour trình bày. Lại nữa, anh không đẹp trai lắm, nhưng anh cũng khá khôi ngô, ăn nói mềm mỏng, hành xử dễ mến. Khi anh cỡi Honda đỏ từ Bảy Hiền vừa đến trường, là các sinh viên chỉ chỏ rồi kháo nhau: “Trọng Nghĩa đó, ban ngày đi học, ban đêm đi hát phòng trà Queen Bee. Đây là sinh viên thứ thiệt, còn các cô Đăng lan và Minh Xuân, là do báo chí lá cải tấn phong làm sinh viên cho oai vậy thôi. Các bạn trong lớp năm thứ nhất của phân khoa điện ảnh, có hỏi tôi nghĩ sao về danh ca Charles Aznavour, mà họ cho rằng Trọng Nghĩa đi theo lối diễn tả của danh ca này. Tôi buồn bã trả lời:

“Tờ Paris Match có ca tụng Charles Aznavour, tặng anh ta cái mỹ danh là “sứ thần ca nhạc”. Nhưng tôi không mấy thích cách ngân nga của anh ta. Chuỗi ngân anh ta nhỏ rí và thô rít, giống như chuỗi ngân của nữ nghệ sĩ Phùng Há, rung đổ hột, khi hát các bài bản Hồ Quảng. Cũng đồng thời ngân nga từng chuỗi hột nhỏ, nhưng, Edith Piaf và Mireille Mathieu bên Pháp ngân nga thật thoải mái và óng ả. Lại nữa, cả hai có thể kéo dài chuỗi ngân tới đâu cũng được.

Một anh bạn trách: “Ngài” khó tánh quá. Hãy đến phòng trà Queen Bee xem Trọng Nghĩa hát, thì mới có thể gần gũi đương sự.

Tôi cười chua chát: “Nghiệt thay, vào những tối tôi đến phòng trà Queen Bee, thì không gặp ông Trọng Nghĩa mới chết chứ!”

Trong thâm tâm, tôi biết là minh ganh ghét Trọng Nghĩa. Anh được các bạn sinh viên ưu ái, huống hồ gì các khán thính giả lui tới phòng trà Queen Bee? Còn tôi, mỗi khi đến trường, trong lúc chờ đợi vào lớp, tôi chỉ biết ngồi ở góc sân, chong mắt nhìn các sinh viên quây quần chung quanh Trùng Dương, Bảo Ân và Trọng Nghĩa.

Sau này, khi ra hải ngoại, được quen thân với Trọng Nghĩa rồi, tôi mới biết anh có chuỗi ngân óng ả, chứ không thô rít như chuỗi ngân của Charles Aznavour. Thì ra, anh chỉ hát dăm ba bài bản do Charles Aznavour trình bày, nhưng lại theo lối diễn tả riêng biệt của anh. Ngoài ra, anh còn hát những bài bản do các ca sĩ Pháp trình bày, cùng là những bài bản của Hoa Kỳ nữa.

Trọng Nghĩa có tầm vóc không cao không thấp, tuy hơi đầy một chút, nhưng thon gọn và cứng cáp. Nước da anh màu nâu hồng, ấm áp như màu của ngọc hồm mã não (cornaline). Thật sự, trên khuôn mặt anh, chẳng có chi tiết nào đẹp thanh tú. Nhưng nhìn tổng quát, nhìn toàn diện, anh có một bố cục cực kỳ hài hòa trên khuôn mặt, nên anh điển trai một cách bất ngờ và một cách thích thú, khi người ta ngắm anh thật lâu, lúc anh ca hát trên bục ca. Càng ngắm anh, chúng ta mới tìm được cái charme thâm trầm, và tiềm tàng ở nhân diện anh. Đó cũng như chúng ta vạch lau rẽ sậy, ở một bãi hoang, bất ngờ tìm gặp một cây phù dung đơm hoa trắng vào buổi sáng, và hoa trở nên màu hồng đào tươi đẹp vào buổi xế. Đó cũng như vào tiết xuân, chúng ta rẽ gai, vạch những bụi hoang của một cụm rừng, bất ngờ ta gặp những khóm dã lan (còn gọi là thạch khê, iris) trổ hoa tím ngọt, những khóm linh lan (muguet) với nhành uốn cong đơm hoa trắng, hay những khóm hoa hoàng anh (còn gọi là hoa trường thọ, jonquille) màu hoàng yến, xôn xao khoe sắc trong nắng tươi vàng.

Trọng Nghĩa có khóe mắt reo vui, một nụ cười tươi rạng thật hồn nhiên. Cho nên, nhờ hai điểm trội đó, anh có một cái thần sắc trong ngời và thánh thiện. Dù khuôn mặt anh có theo thời gian mà già đi, nhưng ánh mắt và nụ cười ấy, vẫn trẻ trung vĩnh viễn. Và dù ở vào tuổi 40, anh có để hàng ria mép tỉa mỏng cho mặn mà nụ cười, nhưng không vì đó, mà nụ cười trở nên đĩ trai như nụ cười của Robert Donat, của Clark Gable, và của Errol Flynn được. Trước sau, nụ cười đó vẫn thần tiên, vẫn hồn nhiên muôn thuở, như gửi cho người đời một thông điệp về tâm hồn trong sáng, có những cái nhiệm màu bất khả tư nghì. Cái đặc biệt thứ ba trên khuôn mặt, là đài trán thật cao, thật thẳng đứng, như tấm vách thành. Một vầng trán thật băng sương, thật trí thức, dường như những áng mây sầu, những cuộn sương bóng khói phiền não, vừa hiện lởn vởn lên đó, sẽ rã tan ngay. Chỉ có những ý nghĩ đẹp của những bài thơ trữ tình, chỉ có những tư tưởng cuả các bậc hiền triết mới ở nơi đó lâu. Và chỉ có những thứ ấy, mới đem lại muôn vàn cảm hứng cho Trọng Nghĩa, để anh phổ nhạc cho những bài thơ, để anh sáng tác những ca khúc cho riêng giọng hát của anh.

Qua những tấm ảnh chụp mà Trọng Nghĩa gửi cho tôi, tôi nhận thấy anh ăn mặc theo kiểu trể trung, nhưng màu sắc thì không diêm dúa, thường là những màu sậm, như màu hoa tử đinh hương, tức là màu tím pha xám, màu vỏ dừa khô, tứ là màu “ma-rông” pha một chút xám, màu lam thạch, tức là chàm, pha một chút xám, màu đá huyền vũ, tức là màu xám thật đậm, gần với màu đen. Nhưng khi đi dạ hội, anh mặc lễ phục đen, thắt cà-vạt có màu tươi. Vẻ thanh lịch trong cách phục sức của anh, còn ở mái tóc hớt cao, hơi lòa xòa trước trán, làm cho người đối diện với anh tưởng như đó là mái tóc cẩu thả, nhưng nhìn kỹ lại, thì đương sự mới nhận ra, đó là cái lòa xòa và cái cố ý làm cho khuôn mặt anh trẻ trung và sáng mắt hẳn ra. Tiếng hát Trọng Nghĩa, là tiếng hát có âm sắc không thuần nhất, giống như một bức tranh có tảng đậm, tảng lợt chen nhau. Giọng hát đó, có dáng nhung mượt, khi anh hát ở chỗ xuống hơi trầm, hoặc ỏ chỗ không cao không thấp. Khi hát ở những chỗ đó, anh trau chuốt, nắn nót tiếng hát, nhưng cái điệu đà của anh trong lối trình diễn, cũng chỉ vừa phải thôi. Khi lên hơi cao một chút, giọng hát của anh thật thanh, ngọt ơi là ngọt, dẻo ơi là dẻo! Khi lên ở chỗ thật cao, giọng anh không mỏng lắm, so với lúc anh hát ở chỗ ngang ngang, đã vậy, còn vang lồng lộng, và sáng nguy nga, như vòm trời tràn ngập ánh trăng rằm. Tôi không hiểu đó, có phải là giọng óc (son de tete) hay giọng haute-contre hay không? Giọng óc thường chua áy và chát ngầm, còn giọng haute-contre thì the thé chói tai. Đằng này giọng anh chẳng những không chua, không chát, và cũng không the thé, đã vậy, nó còn không mất âm lượng, và còn nẩy lên âm sắc tươi đẹp trẻ trung.

Nhờ luyện tập giọng theo phương pháp chân truyền, Trọng Nghĩa có một làn hơi tinh luyện, anh sử dụng được làn hơi ấy, từ bụng đưa lên khẩu cái, rất là già dặn và dũng mãnh. Tuy nhiên, anh không ngân nga dễ dàng lắm, nhưng gợn của anh tuy đều, và hơi mờ, hơi mỏng, không uốn lượn rập rờn như những đợt thu ba. Dù vậy, chỉ nghe anh kéo dài làn hơi ở tiếng cuối câu hát, cũng đã cái lỗ tai rồi. chõ kéo dài sang sảng, thanh tao và mượt mà, kéo dài tới đâu cũng không sai một bán cung. Từ chỗ kéo dài đó, dăm ba đợt nổi lên gờn gợn và mờ mờ, như làn sóng ngân vang trong chiêm bao.

Trong Nghĩa hát những ca khúc âm hưởng bán cổ điển như “Sérénade” của Schubert, “Tristesse” của Chopin, “Celèbre Valse” của Brahms đều hay. Ngoài ra, anh hát những bài tình khúc của Ngô Thụy Miên, Thanh Trang cũng đạt lắm. Lại nữa, những ca khúc của Pháp trong các thập niên 50, 60, 70, anh hát cũng thật hào hứng.

Tiếng hát của Trọng Nghĩa, là tiếng hát của cậu trai tân gửi trao những tình tự, những lời âu yếm cho cô trinh nữ, giữa một mùa xuân giao cảm của đất trời. Lúc đó, cỏ non đã phủ biếc sườn đồi và đỉnh đồi. Hoa dại như hoa bouton d’or, hoa pissenlit điểm vàng lấm tấm trên nền cỏ non. Những cây anh đào đã thịnh phóng hoa hường tươi. Những cây soan đào đơm hoa tím, hoa trắng. Những cây lệ liễu trổ đọt mới nõn nà, nhưng chưa buông tơ tha thướt. Những cây bạch dương đơm lá non óng mượt như lụa biếc. Trong khuôn viên cô trinh nữ, những khóm mẫu đơn đã trổ hoa hường tươi, hoa tím sen, hoa trắng. Những hoa phong lữ thảo triển lãm màu sắc tưng bừng, theo giai điệu hường lạt, hường tươi, đỏ đậm, đỏ gạch … Và dễ thương chưa, cụm hoa lưu ly thảo do chàng trai tân gieo hạt và bón xớn khi chồi hoa còn non yếu! Chàng đã sang cụm hoa trong chậu nhỏ tráng men thúy lục và giờ đây, những bông hoa màu thiên thanh xanh biếc, điểm lấm tấm trên nhánh non mềm. Hôm qua, chàng đã tặng nàng chậu hoa đẹp kia. Hoa lưu ly thảo, còn cái tên đẹp u hoài và tha thiết là “Forget-Me-Not” (“Đừng quên anh”). Tên của bông hoa, mới ý nghĩa làm sao! Nàng đã đặt chậu hoa ở bao-lơn trên lầu, từ chỗ nàng chơi dương cầm ngó ra.

Sáng hôm nay, nàng mặc chiếc robe bằng mousseline trắng, in hoa lưu ly thảo. Nàng ngồi bên dương cầm thuộc loại piano à queue. Nàng sẽ không chơi những loại tấu khúc nhiêu khê đâu. Nàng sẽ đánh một bài hát ru của Mozart. Và khi nàng dạo khúc dẫn nhập xong, thì dưới lầu, một tiếng hát vẳng lên:

Mon petit ange va dormir
Dans son nid, l’oiseau va se blottir.

Tiếng hát chàng đó chăng? Sáng Chúa nhật hôm nay, đẹp trời quá! Chàng đến đây hồi nào vây? Chàng đến đúng vào lúc, câu dẫn nhập của bài hát vừa dứt, để chàng cất lên tiếng hát. Đây là ca khúc dành cho những chàng hồng nam, nhưng cô lục nữ đang độ thèm khát yêu đương, đang độ bơi lội trong mơ hoa mộng ảo. Mà sao tiếng hát của chàng giống tiếng hát của Trọng Nghĩa đến thế! Nàng nhìn xuống lầu. Chàng trai tân yêu quí của nàng kia rồi. Khi chàng hát bài ru của Mozart kia, khuôn mặt chàng ngời sáng hạnh phúc. Và chàng dần biến thành ca sĩ Trọng Nghĩa, nhưng trẻ hơn anh chàng ca sĩ đó gần một phần tư thế kỷ. Nàng chạy vào phòng, đứng trước tấm gương bàu dục cực lớn, để xem hình bóng nàng phản chiếu trong lòng gương ra sao.

Ô hay! Trong giờ phút yêu đương mê đắm chàng trai tân kia, nàng bỗng giống nữ dương cầm Mộng Lan, người vợ yêu của Trọng Nghĩa mà nàng đã được xem anh đương sự trên tấm poster quảng cáo băng nhạc “Mùa Thu Xa Em”. Nhưng Mộng Lan trông trẻ hơn cô thiếu nữ trong gương nhiều, lồ lộ vẻ ngây thơ tươi mọng như rau cải cúc tẩm sương mưa. Trong lúc đó, chàng trai tân kia vẫn ở dưới chân lầu, đang say sưa đùa bỡn tiết điệu và âm thanh. Tiếng hát của chàng lướt phom phom những bản mà Trọng Nghĩa đã trình bày trong các băng và đĩa nhạc như: “Mùa Thu Xa Em”, “Một Đời Giữ Mãi Cho Nhau”, “Dạ Khúc Sầu”, “Một Tròi Như Lai”, “Ta và Vũ Trụ”, “Hoa Lan Giữ Tóc Thề”, “Elle était belle”, và “Một Đóa Sen Hồng”.

Ra hải ngoại, nhất là sau khi thành hôn với nữ dương cầm Mộng Lan ở California, Trọng Nghĩa định cư luôn ở đây. Trước đó, anh định cư tại Montréal, Canada, nhưng Canada không phải là môi trường để anh hoạt động ca hát. Chính Califonia, là nơi quần chúng tụ nhiều văn nghệ sĩ thuộc đủ bộ môn và nhất là đông đảo kiều bào. Ở đây, anh có nhiều môi trường, nhiều địa bàn hoạt động, để hành nghề ca hát. Và chính nơi đây, anh tiếp xúc nhiêu van gia thi sĩ, để vợ chồng anh gặt hái nhiều cảm hứng trong việc phổ nhạc những bài thơ của các tác giả như: Huyền Không, Thanh Trí Cao, Nguyên Sa, Viên Linh, Nhã Ca, Trần Thiện Hiệp, Thái Tú Hạp, Cung Vũ, Huệ Thu, Vũ Kiện, Nguyễn Văn Hưng, Tuệ Nga, Ngô Hưng, Trụ Vũ, Bắc Phong … Về sau, do sự khuyến khích của anh, nữ dương cầm Mộng Lan cũng bắt đầu phổ thơ và sáng tác nhạc. Tất cả những nhạc phẩm ấy, được cô gom lại thành đĩa nhạc “Hoa Lan Giữa Tóc Thề” để cho giọng hát của Quỳnh Hương và của anh diễn tả.

Trong các băng nhạc av` đĩa nhạc mà tôi kể, đặc biệt nhất là băn nhạc “Một Trời Như Lai”, có một vận sự đẹp và cảm động, mà tôi đã viết trong quyến ký sự văn học nghệ thuật “Theo chân những tiếng hát” rồi. Thiết tưởng ở đây, tôi cũng nên nhắc lại: “Số là bà thân mẫu của Trọng Nghĩa bị chứng xúc não nằm mê man suốt 5 năm. Anh đau lòng khi thấy mẹ ở tình trạng sống không được, mà chết cũng không được. Anh bèn nguyện với Chư Phật mười phương, xin phổ nhạc một số bài thơ Thiền, để thực hiện băng nhạc “Một Trời Như Lai”, đem cúng dường, để cho mẹ được giải nghiệp. Tấm lòng thành của anh được Chư Phật mười phương cảm ứng, cho nên, khi băng nhạc cúng dường xong, thì mấy tháng sau, bà thân mẫu anh từ trần một cách êm ái”

Do đó, Trọng Nghĩa và vợ sinh lòng sùng mộ Phật Giáo. Trọng Nghĩa và Mộng Lan phổ một số thơ Thiền của nhà thơ Thanh Trí Cao, để thực hiện đĩa nhạc cùng băng nhạc “Ta và Vũ Trụ”, do nhà văn nữ Trần Diệu Hằng viết và đọc lời dẫn nhập cho từng bài thơ phổ nhạc kia.

Trọng Nghĩa có diễm phúc hơn mọi ca sĩ khác, là tìm được một người vợ kiều diễm, rất tâm đầu ý hiệp với anh, biết yêu nhạc, và quý trọng sự nghiệp của anh. Mộng Lan, khi cùng dấn thân với chồng trong công việc phổ nhạc cho thơ, đã thành công, trong công việc nối kết hai lãnh vực thi ca và âm nhạc, bằng một chiếc cầu thân ái và kiên cố.

7,988 Responses to TIẾNG CA THÂN QUEN…