NGHE CD: MÂY HẠC VỀ ĐÂU
by on January 16, 2015 in Articles

Từ chiếc lều ni-lông lớn, dành cho các đại chúng ngồi ăn trưa tại giảng đường Hoa Nghiêm, sau buổi lễ Phật Đản do Thầy Hằng Trường tổ chức tại Los Angeles, tôi nhìn đối diện, là những chiếc lều nhỏ được bày bán kinh sách, v.v… ngắm cô Mộng Lan đeo chiếc kính mát màu đen, cô đang ngồi ăn chay trong hộp cơm “chùa”, và chuyện trò với bạn. Hình như cô đang ăn dưa hấu thì phải? Trong cái nóng và cái nắng gắt của cao điểm giờ ngọ, tôi nghĩ đến cặp vợ chồng nghệ sĩ đời và đạo song tu này, họ thường xuyên có mặt trong các sinh hoạt tại các chùa, chồng hát, vợ làm MC, lúc nào cũng năng động, tươi cười, vui vẻ và hoạt bát, chia xẻ những băng CD thấm nhuần đạo pháp với khách hàng. Tôi lò mò đến xem, và mua vài diã CD, trong đó có diã CD “Mây hạc về đâu”. Mải nói chuyện vui với cô, cô cũng sơ ý đưa cho tôi 2 diã CD “Nhiệm mầu từng giọt nắng rơi” và “Một Trời Như Lai” có vỏ, mà không có ruột, làm tôi về nhà buồn buồn, không biết có nên gọi Cô, để nói thiệt sự việc hay không? Chồng tôi đưa ý kiến tìm số điện thoại của anh Trọng Nghĩa trong CD, nhắn anh, nếu đổi được thì tốt, không thì coi như cúng dường lễ Phật Đản vậy.

Please activate Easy Media Gallery Pro licence key. You can activate here

Ngày hôm sau, Trọng Nghĩa mang đến hai đĩa CD mới, Mộng Lan tặng thêm 1 diã CD “Hoa Lan giữa tóc thề” để gieo … duyên và tạ lỗi với tôi. Hai diã CD có vỏ không có ruột này, Trọng Nghiã nói, đã làm cho Mộng Lan mất ngủ, vì sợ làm phiền lòng khách hàng. Tôi cảm động và tội nghiệp cô Mộng Lan. Trong lúc vui miệng, tôi nói với Trọng Nghĩa rằng, CD “Mây hạc về đâu” rất hay, nhưng không có ai viết một bài gì đó giới thiệu nội dung cho diã CD? Hay là để tôi viết một bài tặng cho Mộng Lan và Trọng Nghĩa , gọi là đền lại cái duyên tao ngộ?

Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy, một lời đã lỡ nói, bốn ngựa đuổi không kịp huống chi là lời hứa. Tôi ngồi ngẫm nghĩ mãi vừa lo, vừa “ớn” vì những hiểu biết về Phật pháp của mình, như Đức Phật nói, … nhỏ bé chưa được bằng nắm lá trong bàn tay” trong khi Phật pháp mầu nhiệm, cao sâu, uyên áo, quảng bác vô cùng, ví như một khu rừng trăm cây nghìn lá, khó nghĩ, khó bàn, v.v.. Thêm vào đó, đây là một CD Đạo ca và Thiền ca, được Trọng Nghĩa và Mộng Lan phổ nhạc theo những bài thơ thiền của Thượng Toạ Thích Viên Lý, trụ trì Chùa Diệu Pháp và Tu Viện Bảo Pháp. Đó là chưa nói đến kiến thức âm nhạc nhỏ nhoi của mình chỉ là con số không. Duy Cường, Thái Hiền, Trọng Nghĩa, Mộng Lan những nghệ sĩ tài hoa, “rằng hay thì thật là hay”, nhưng nếu qúy vị hỏi tôi phân tích dùm hay ở chỗ nào, chắc tôi chịu thua. Kiến thức về Phật pháp và âm nhạc như vậy, thế mà dám bàn chuyện trời xanh, trong khi mình chỉ là con ếch ngồi dưới đáy giếng. Xin nhà thơ và các nghệ sĩ từ bi đại xá cho các suy nghĩ sai sót, có khi trật đường rầy của người viết bài này. Thành tâm của tôi, là xin được viết ra những cảm nghĩ nhỏ nhoi, chủ quan, tầm thường của mình, giữ trọn lời hứa với cặp nghệ sĩ mình mến mộ về tài năng và tâm đạo.

“Mây hạc về đâu” là một CD gồm 12 bài thơ, được Trọng Nghiã và Mộng Lan phổ nhạc, trích từ tập thơ “Giọt sưong huyễn hoá” của Thượng Tọa Thích Viên Lý, trong đó, có 2 bài thơ chủ đề về Mẹ, như bài “Mẹ” và “Mẹ là tất cả”, còn lại, là những bài thơ mang sắc thái Thiền, và nội dung Phật pháp được trình bày qua giọng ngâm và tiếng hát của Trọng Nghĩa và Thái Hiền. Mở đầu CD, là bài hát “Mây hạc về đâu”, Mộng Lan đã kết hợp 2 bài thơ “Nhàn tịch” và “Độc toạ” để làm thành ca khúc, lấy ý từ câu thơ “Làn mây hạc hỡi về đâu?” trong bài “Độc Toạ”.

Hình ảnh buổi chiều tà bãng lãng ở quê hương, sau khi những ước nguyện đã được trọn vẹn, người hành giả nhìn thấy lẽ tử sinh của kiếp người, vượt thoát được ngọn sóng sinh tử, tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng:

Người đã tròn mộng ước
Người đã vẹn câu thề
Về đâu trời bãng lãng
Cánh én giữa chiều quê
Người đã tròn mộng ước
Người đã vẹn câu thề
Tử sinh đầu ngọn sóng
Nhàn tịch giữa hương quê…

Cùng với hình ảnh quê hương, bài “Độc Toạ” khiến chúng ta liên tưởng đến bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường:

Hoàng Hạc bất khứ, bất phục phản
Bach vân thiên tải không du du…

Nhà thơ Tản Đà đã dịch:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay…

Bài thơ gợi nhớ một nostalgie, sự chuyển dịch của vạn vật trong kinh Dịch của Nho Giáo, và sự vô thường của vạn pháp trong Phât giáo. Cùng nỗi nhớ quê hương, là con sông Côn tại Bình Định, quê hương tác giả. Tác giả đã “độc toạ” ngồi một mình, lắng nghe tiếng gà xao xác, báo hiệu một ngày sắp bắt đầu, nghe tiếng gió thổi lồng lộng, tiếng thời gian gõ nhịp trôi qua, nhìn lên bầu trời, là hằng hà sa số các vì sao xa xôi, thu trọn trong một vành trăng thật gần, nhìn những làn mây trôi lững lờ, hình ảnh con chim hạc đã bay đi nơi nào:

Hừng đông xao xác canh gà
Vành trăng thu phối, hằng sa tinh cầu
Làn mây hạc hỡi về đâu?
Hững hờ soi bóng bên cầu Côn giang

Hai bài hát đã thấm đượm nỗi nhớ quê hương của nhà thơ:

Gió lồng lộng thổi thênh thang
Ta nghe nhịp gõ thời gian nghê thường
Tà bay mờ nhạt dương quang
Góc trời độc tọa, chim ngàn ngẩn ngơ…

Hai câu cuối, với tiếng hát Trọng Nghĩa, lên cao thêm một cung bậc, được người ca sĩ hát đi hát lại, như một điệp khúc, cùng với tiếng sáo hoà âm vi vút, trầm bổng, gợi hình ảnh “Mây Hạc Về Đâu” trong khoảng không gian cao rộng ngút ngàn. Mộng Lan, người phổ nhạc bài thơ, đã nắm bắt được ý thơ, cô chuyển đổi các cung bậc của bài hát cao dần, khiến bài hát có âm điệu cao vút như cánh chim ngàn, bay về một cõi xa xôi, vô tận…

Đây là một “appetizer” mở đầu cho những bài thơ mang âm điệu thanh thoát, sắc thái thiền, nội dung đầy hưong vị giải thoát.

Cho Nhau Niềm Phúc Lạc

“Cho nhau niềm phúc lạc” hay “Dâng tặng nhau niềm phúc lạc” là bài hát thứ hai trong CD “Mây Hạc Về Đâu”. Phúc lạc, là niềm vui và hạnh phúc của con người trong thế gian. Mở đầu bài thơ, tác giả nêu lên một trong những lý thuyết căn bản của Phật giáo, đó là lý duyên sinh của vạn pháp:

Tôi là tất cả, tất cả là tôi Là chuỗi xích nhân duyên trùng trùng vô tận…

Theo lý duyên sinh , phàm cái gì có hình tướng, gọi là “Pháp”. Vạn pháp không sinh ra, không mất đi, không từ Không trở nên Có, hoặc từ Có trở nên Không. Vạn pháp là sự tương nhập lẫn nhau, trong cái này, có cái kia, và trong cái kia, có cái này… chẳng hạn như nhìn một tách trà, ta thấy có đất sét, có nước, có lửa nung, có người thợ gốm, người trồng trà, v.v…và v.v… Nhìn một mảnh giấy, ta thấy có cả một rừng cây, nhìn rừng cây, ta thấy có sông, nước sông bốc hơi thành mây, mây tụ lại gặp lạnh thành mưa, mưa rơi xuống đất, giúp cho cây rừng xanh tốt, và còn bao nhiêu những cái “duyên” khác hợp lại, như tia nắng mặt trời, hình ảnh người thợ rừng đốn gỗ, người công nhân làm giấy, máy móc, chất hoá học v.v… để có một tờ giấy. Cả một vũ trụ to lớn “sơn hà đại địa”, thu nhỏ trong một tờ giấy “mảng lông thu trọn”. Cả một chuỗi mắt xích nhân duyên trùng trùng vô tận, do duyên khởi mà sinh ra, cứ thế mà nối kết nhau. Từ đó, đưa đến những ý niệm về Có-Không, Sinh-Diệt, Lớn-Nhỏ, Trên-Dưới, Trong-Ngoài, v.v…

Vạn pháp, còn là sự tương tức như sóng với nước, sóng cũng là nước, và nước cũng là sóng. Vì thế hình ảnh:

Anh chính là tôi, tôi chính là anh. Đại địa sơn hà, mảng lông thâu trọn…

cũng là sự nối tiếp nhiều đời, nhiều kiếp của chúng sinh trong cõi sinh tử luân hồi:

Tự tánh xưa nay vốn rỗng lặng… Không tướng, vô hình không một chẳng hai…

Tự tánh, hay còn gọi là Tánh Giác, Phật Tánh, Chân Như, Chân Nguyên, Như Lai Tạng, Tâm Bồ Đề, Niết Bàn, v.v… Bản thể của nó không hình, không tướng, rỗng rang, trong lặng, thanh tịnh. Vì sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sinh ra sáu thức, khiến vọng khởi phân biệt, như: Lành-Dữ, Tốt-Xấu, Phải-Quấy, Đúng-Sai, Một-Hai, v.v… đưa tới Sầu, Bi, Khổ, Ưu, Não, v.v… Tự tánh này, Tổ Huệ Năng nói với Tổ Hoàng Nhẫn trong kinh Kim Cang: “Đâu ngờ tự tánh vốn thanh tịnh”. Người đạt đạo, là người hằng sống với tâm rỗng lặng, thanh tịnh, không phân biệt bởi các vọng cảnh và ý niệm bên ngoài. Có được tâm không phân biệt này, lòng từ bi nảy sinh, như trong kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa: “Khi Bồ Tát trụ vào thật tướng, tức là vô tướng, thì lòng từ bi phát khởi”.

Ôi, nỗi đau của người
cũng chính là niềm đau riêng tôi
Tôi đau nỗi đau của người
Tôi vui nỗi vui mọi loài
mà tâm chẳng phân biệt…

“Cho nhau niềm phúc lạc”, là một bài thơ dạt dào tâm từ bi vô lượng của Đức Phật đối với chúng sinh, của nhà thơ đối với nhân loại. Người con Phật, là người sáng ra mang niềm vui cho người, chiều giúp người bớt khổ. Bài thơ thấm nhuần lý duyên sinh và Phật tánh.

Kết thúc bài ca, là những đoạn thơ nêu rõ tam độc “tham-sân-si” là những nguyên nhân gây ra bao nhiêu niềm đau, nỗi khổ của con người:

Hãy buông đi tham sân si tam độc
Dâng tặng nhau niềm lạc phúc miên trường
Hãy buông đi tham sân si tam độc
Và cho nhau niềm lạc phúc miên truờng…

Tiếng hát thanh thoát và đầy an lạc của Thái Hiền đã diễn tả được niềm phúc lạc trong hai câu cuối lập đi lập lại, muốn kéo dài mãi niềm vui và hạnh phúc mà chúng ta nên thân tặng nhau trong cuộc sống hàng ngày:

Và cho nhau niềm lạc phúc miên truờng…

Lệ Nhòa Sắc Không

Với ba bài thơ ngắn “Nhớ quê”, “Lệ nhoà sắc không” và “Gợi nhắc”, Trọng Nghiã đã kết hợp thật hài hoà và thành công ba bài thơ thành một, với tựa đề “Lệ nhoà sắc không”, mang chủ đề sự vô thường của vạn pháp, trong đó, có thân tứ đại của con người.

Kinh Bát Nhã đọc tụng hàng ngày, chúng ta ai cũng nhớ hai chữ “Sắc, Không” bao trùm toàn bộ quyển kinh. “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc …” Bồ Tát quán tự tại, thâm hiểu lời Phật dạy, Sắc Sắc khác gì Không, Không Không khác gì Sắc, Sắc cũng là Không, Không cũng là Sắc, rồi thọ, tuởng hành thức cũng sẽ biến thành Không, khi có duyên thì chúng hợp lại, hết duyên, thì tan rã, đâu có gì là thật, vì thế, Ngài chứng ngộ chơn tâm.

Với thanh âm trầm lắng, tiếng sáo dìu dặt thê lương, tiếng hát Trọng Nghiã chùng xuống như lắng đọng trong khung cảnh tịch mịch, u trầm của buổi chiều hoàng hôn, tiếng sóng vỗ đều đều xa xa, gió thổi hiu hắt lạnh lùng, hình ảnh quê hương trong bài “Nhớ quê” với những nguời thân nay đã muôn trùng xa cách:

Hoàng hôn buông phủ tư bề
Lặng nghe sóng vỗ nhớ quê lạ lùng!
Người thân nay đã muôn trùng
Gió hiu hắt thổi, lạnh lùng rơi rơi!

Nhà thơ cho thấy, xác thân tứ đại của con người, khi hết duyên thì tan rã, nước mắt của chúng sinh trước cảnh giới sinh ly tử biệt rong bài “Lệ nhoà sắc không”:

Gió reo đầu trúc chiều tàn
Áo hoa đổi lấy khăn tang nhạt nhoà
Tử sinh không sắc giao hòa
Kiếp người ảo ảnh, lệ nhòa sắc không

Âm thanh đầu tiên khi chào đời, là tiếng khóc, những giọt nước mắt của chúng sinh như Đức Phật nói, “nhiều hơn nước của đại dương, vì chúng sanh nhận các pháp hữu vi là có thật, là có hình tướng…” có biết đâu, kinh Kim Cang đã dạy chúng ta cách quán các pháp hữu vi chỉ là vô thường, biến dịch, dời đổi:

Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bóng bọt
Như sương cũng như điện
Nên phải quán như thế

Vì thế, để từ giã một người thân ra đi, bài thơ “Gợi nhắc” còn sinh diệt là còn vô thường, còn vô thường là còn luân hồi sinh tử, vượt thoát khỏi pháp thân vô tướng, hằng giác, chẳng sinh, chẳng diệt, tức là thấy được tánh giác thường hằng:

Mỗi khi có một người đi
Là khi gợi nhắc hữu vi vô thường
Đời huyễn mộng, lắm tang thương
Nghìn năm trần giới, con đường tử sinh…

Đọc đến đây, tôi chợt nhớ bài thơ thiền của thiền sư Yuren, trụ trì một ngôi chùa ở Edo, Nhật Bản, nhắc nhớ đến thân tứ đại của chúng ta ngày mai:

Nhìn qua những cánh đồng
Tôi thấy làn khói vô danh
Lại bốc cao hôm nay
Thân xác những ai sẽ là
Củi đóm ngày mai?

Để kết thúc bài thơ, tiếng sáo trải dài, ai oán, nhắc nhở chúng ta con đường tử sinh ai cũng phải trải qua:

Thời gian mải miết vận hành
Nghìn năm trần giới, con đường tử sinh…

Câu chuyện Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, trước khi thị tịch, ông cho kê giường nằm ở Dưỡng Chân Trang, một thiền đường lớn, mắt nhắm nghiền, nằm xuôi kiểu cát tường. Là một cư sĩ tại gia của chế độ phong kiến, ông có cả một đoàn thê thiếp, cùng với con cái và kẻ hầu người hạ. Biết ông sắp đi, mọi người khóc rống lên. Ông mở mắt ngồi dậy, bảo lấy nước rửa tay , súc miệng và trách vợ con: “Sống chết là lẽ thường, sao lại khóc lóc, buồn thảm, luyến tiếc làm động đến chân tánh của ta?” Nói xong, ông từ giã cõi đời, ra đi một cách nhẹ nhàng, êm ái, an nhiên tự tại. Người đạt đạo là người vượt thoát và làm chủ được con đường tử sinh của mình, như hai câu thơ trong bài “Dạo Chơi”:

Tự tại cuối giờ kiếp huyễn sinh
Đùa vui đầu ngọn sóng sinh tử …

Với giọng hát trầm ấm, thắm đượm “Lệ nhoà sắc không” trong toàn bài thơ do anh phổ nhạc, Trọng Nghĩa đã diễn tả được nội dung sự vô thường, cùng với sự phối âm bằng tiếng sáo ai oán não nùng của Duy Cường, đây là một bản nhạc đạt được lẽ đạo về nội dung lẫn nghệ thuật.

Nụ Hồng

“Nụ Hồng” là bài thơ thứ tư trong CD “Mây Hạc Về Đâu”. Với khả năng phối hợp các bài thơ ngắn không cùng thể loại, không cùng chủ đề, Trọng Nghĩa đã làm bật lên những âm thanh tuyệt vời, khiến cho các bài thơ nối kết nhau đưa đến một chủ đề chính, đó là sự tỉnh thức của người hành giả đã đạt đạo. Bài “Chuông ngân”, được làm theo thể ngũ ngôn, và bài “Nụ hồng”, được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt, người nhạc sĩ đã mở đầu bản nhạc “Nụ hồng” bằng tiếng hát ở âm độ cao của anh, diễn tả tiếng chuông ngân vang vượt sườn núi, cùng với tiếng kệ vọng đến chân trời từ một ngôi chùa đâu đó đã cuốn trôi đi tất cả những phiền não trong tâm hồn nhà thơ:

Chuông ngân vượt sườn núi
Tiếng kệ vọng chân trời
Phiền não bỗng nhẹ tênh
Nẻo về không chốn nơi…

Đây cũng là tâm trạng của một người chưa tìm được con đường, đó là đường đi , hoặc nẻo về của Phật pháp:

Chuông vọng xa chùng xa
Phạm âm sát na gần
Đường trước không một bóng
Nói năng gì vọng chân…

Người hành giả đang bơ vơ, đơn độc trên con đường đời, “Đường trước không một bóng”, trong khi tiếng chuông vang từ muôn trùng xa bao nhiêu thì tiếng Phật pháp gần với nhà thơ như trong một sát na: “…Phạm âm sát na gần…”

Nghe tiếng chuông ngân, phiền não tan biến, dòng pháp nhũ từ những lời kinh, tiếng kệ khiến tâm hồn tác giả thanh tịnh, lắng đọng. Trọng Nghĩa đã chuyển đổi bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, nguyên tác của tác giả:

Một sớm du hồn tận đỉnh không
Trầm mình nghe gió hú hư không
Nghe mưa thổn thức trên cành lá
Tỉnh thức vườn sau một nụ hồng…

thành một bài thơ ngũ ngôn bát cú sáng tạo, làm nổi bật được ý thơ. Đó là sự tỉnh thức của người đạt đạo khi nhìn thấy một nụ hồng nở sau vườn. Bằng hai chữ “Ô hay” thật bất ngờ, ngạc nghiên và thú vị:

Mình ta trong một sớm
Du hồn tận đỉnh không
Rồi có lúc trầm mình
Nghe gió hú hư không
Lặng nghe mưa thổn thức
Trên mấy nhánh sầu đông
Ô hay! Lòng tỉnh thức
Vườn sau một nụ hồng…

“Nụ hồng”, phải chăng là câu chuyện “niêm hoa vi tiếu”, đoá hoa sen của Đức Phật trong hội Linh Sơn đưa lên cho đại chúng, nhưng chỉ có Ngài Ma-ha-Ca-Diếp lãnh hội và mỉm cười…

Nghe (Pháp Âm)

Bài hát thứ năm trong CD “Mây Hạc Về Đâu” là bài thơ nguyên tác tựa đề “Nghe” của tác giả đã được Trọng Nghĩa phổ nhạc và đổi tựa đề là “Pháp âm”, lấy ý thơ từ câu thơ cuối của bài thơ “Pháp âm mầu nhiệm khôn lường” đã làm cho bài thơ mang âm hưởng đạo vị. Pháp âm, hay còn gọi là phạm âm, 64 tiếng phạm âm, ngôn ngữ của đức Phật vang vọng từ hơn 2500 năm về trước, Ngài đã giảng bài pháp về Tứ đế cho 5 anh em ông Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển, khởi đầu cho bánh xe pháp xoay chuyển không ngừng, và kết thúc là bài pháp cho người du sĩ Su-Bát-Đa về những người tu ngoại đạo, nếu thực hành Bát-chánh- đạo, đều đạt được quả vị A La Hán.

Trên bình diện hoá thân, Phật đã giảng pháp hơn 40 năm, bước chân hoằng pháp của Ngài du hành trên cả nước Ấn Độ. Trên bình diện Pháp thân, Ngài đã nói Pháp trên các tầng trời Đao Lợi, Đâu Suất… cho các bậc Bồ Tát, các Vua trời… Mở đầu bài thơ, tâm thức của nhà thơ, cũng như của chúng sinh, là một màn vô minh cũng như vũ trụ:

Rồi một sớm giật mình thức giấc
Vũ trụ đang mơ màng
Cả trời đất thênh thang
Đang còn trong mộng mị…

Với sự tỉnh thức, người hành giả trong bài thơ đã bắt đầu buớc đi bằng những bước chân trầm hùng; giai điệu đã chuyển âm độ, từ thứ đến trưởng, để diễn tả sự thanh thoát. Các câu thơ được lập đi lập lại như một điệp khúc:

Tôi bắt đầu buớc đi
Những bước chân trầm hùng
Tôi bắt đầu bước đi
Những bước chân trầm hùng
Nhưng vô cùng thanh thoát…

Với tiếng hát trong trẻo như tiếng suối reo của Thái Hiền, phối hợp với nhịp điệu chậm 12/8, theo loại nhạc pop ballade, còn gọi là slow rock, ta có thể cảm nhận được hình ảnh những bước chân thanh tịnh và thanh thoát của người hành giả. Với nghệ thuật hòa âm tài tình, nhạc sĩ Duy Cường đã tạo được cao trào của bản nhạc (climax) bằng cách phối âm (Orchestration) bởi nhiều nhạc cụ, tiêu biểu là tiếng đàn piano dồn dập, nhanh, mạnh, reo vui:

Tôi nghe sưong mai bừng lên nắng hạ
Nghe cả ngàn hoa ngạt ngào thanh tịnh
Tôi nghe chim hót và nghe lá rơi
Nghe cơn gió thoảng và nghe suối hát…

Người hành giả đã “nghe” những âm thanh của thiên nhiên, như tiếng trở mình của những hạt sương mai, trong ánh nắng bình minh của mùa hạ, nghe tiếng ngàn hoa tỏa mùi hương ngào ngạt thanh tịnh, nghe tiếng chim hót líu lo trên cành, nghe tiếng lá rơi nhẹ nhàng trên mặt đất, nghe tiếng gió thoảng rì rào, tiếng suối hát reo vui…

Kinh A-Di-Đà kể chuyện, có một nước cực lạc ở cõi Tây phương, còn gọi là cõi Tịnh-độ, nơi đó, có các loài chim Khổng Tước, Anh Vũ, Ca-lăng-Tằng-Già, Bạch hạc, cùng tấu khúc pháp âm vể ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo… Có loài hoa tên là Mạn-đà-la, toả hương thơm ngào ngạt, có những cành cây bằng ngọc, phát ra tiếng nhạc …

Pháp âm mầu nhiệm khôn lường
Sum la vạn hữu đang thuờng tịch nhiên
Pháp âm, ôi, Pháp âm!
Mầu nhiệm khôn lường!

Hai câu cuối ngân nga, kéo dài, ca ngợi sự mầu nhiệm, vi diệu của Phật pháp, đã gây ấn tượng cho người nghe. Đây là một bài thơ thanh thoát về nội dung, lẫn nghệ thuật hoà âm và người ca sĩ trình bày.

Dạo chơi

Cửa chùa, hay cửa thiền, còn gọi là “Không”. Lý thuyết nhà Phật tựu trung không ngoài chữ “Không” thâm sâu, mầu nhiệm. Người viết bài này, có lúc nghĩ rằng, nếu được suy ngẫm một chữ “không” trong những ngày còn lại của cuộc đời mình, chưa chắc mình đã hiểu được hết ý nghiã của nó. Cùng một chủ đề, là tâm thức của người đạt đạo, người thiền giả, đến với cửa không:

Từ cõi vô cùng vào nhân giới
Cửa không hôm sớm trải lòng ra
Tử sinh một mái chèo lênh láng
Biển pháp mênh mông trăng hiện đầy
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Đùa vui dầu ngọn sóng sinh tử
Tự tại cuối gió kiếp huyễn sinh
Đi, đến, cợt cười như gió thoảng
Chòm cây, lùm trúc rộn niềm vui…

Với nhịp chậm, các câu thơ 7 chữ trong nguyên tác, đã được người phổ nhạc thêm vào chủ ngữ “Ta”, làm nổi bật hình ảnh cái “ngã”, vốn là cái “vô ngã” trong đạo Phật:

Ta vào nhân giới, từ cõi vô cùng
Cửa không hôm sớm, ta trải lòng ra
Tử sinh một mái chèo lênh láng
Biển pháp mênh mông, ánh trăng hiện đầy!

Người hành giả đã vượt qua bến bờ sinh tử, ý thức giác ngộ về Phật pháp hiện đầy và toả sáng như ánh trăng. Người hành giả thấy vạn pháp chỉ là huyễn, nên có thái độ an nhiên tự tại, xem cõi ta bà như môt cuộc “dạo chơi”, sống vui với cây cỏ hoa ngàn:

Ta đến, ta đi, cợt cười như gió thoảng
Chòm cây, khóm trúc ta rộn niềm vui
Tự tại, cuối giờ kiếp huyễn sinh
Đùa vui đầu ngọn sóng sanh tử…

Những câu thơ, gợi nhớ đến Vua Trần Nhân Tông, trước giờ phút viên tịch, Ngài giơ tay ra hiệu mở cửa sổ, nhìn ra bầu trời đầy sao, hỏi người đệ tử là Bảo Sát: “Bây giờ là giờ gì?” Bảo Sát thưa: ” Giờ Tý”, Bảo Sát hỏi: “Tôn Đức đi đâu bây giờ?” Ngài nói:

Mọi pháp đều không sinh
Mọi pháp đều không diệt
Nếu hiểu được như thế
Chư Phật thường hiện tiền
Chẳng đi cũng chẳng lại…

Rồi ngồi theo kiểu sư tử tọa mà tịch một cách an nhiên tự tại.

Người hành giả đạt đạo nào, cuối cùng, đều tìm về cho mình một quê hương, nơi chốn chôn nhau cắt rốn, đó cũng là một quê hương tâm linh:

Nguyện mãn quay về quê chốn cũ
Tên gọi còn không há lũy cương
Không tánh chơn thường siêu giới ngoại
Dạo chơi thơi thảnh cõi vô cùng

Vua Trần Thái Tông cũng nhắc nhở một chốn quê: “Ngày hết, quê xa vạn dặm trường”. Tìm về quê hương tâm linh, cũng chính là tìm về với bản thể chân thực của mình. Vua Lý Thái Tông đến viếng Thiền Lão thiền sư, Vua hỏi: “Hằng ngày Hoà Thượng làm gì?” Sư đáp:

Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân

Tạm dịch là:

Trúc biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh?
Trăng soi mây bạc hiện toàn chân

Người thiền giả, khi nhìn sự vật, không dấy tâm khởi niệm, mọi vật đều hiển lộ “tánh không”, và “chân thường” của một “siêu giới ngoại”, một thế giới vượt thoát được những ý niệm đời thường. Tiếng hát của Trọng Nghĩa tròn đầy, khoẻ, âm độ cao, được ca sĩ hát đi hát lại, như một điệp khúc gợi hình ảnh người biết đạo và chứng đạo, đạt được sự giải thoát, và trong một phong thái ung dung tự tại, đến với nhân gian từ “cõi vô cùng”, và “dạo chơi” trong cõi vô cùng. Đó cũng là câu thơ cuối cùng, khép lại toàn bộ chủ đề bài thơ. Đây là bài thơ thấm nhuần màu sắc hương vị giải thoát của thế giới Thiền.

Chợt thấy con tim rực nắng hồng

Cùng với bài “Nụ hồng”, bài thơ “Chợt thấy con tim rực nắng hồng”, cũng là một bài thơ diễn tả tâm hồn thanh thoát của người hành giả, đã thấy đạo và biết đạo. Hơn 2500 năm trở về trước, Đức Phật đã dùng Phật nhãn, thấy chúng sinh trong cõi ta bà, đắm chìm trong vòng sinh tử luân hồi, vì mải mê theo đuổi những dục lạc thế gian:

Trên đỉnh trời cao mây ngút ngàn
Có thân ngàn dặm bước lang thang…

Người lãng tử độc hành, lòng nặng trĩu mối cảm hoài, nhớ nhung, tiếc nuối tiếng đàn, chén rượu, cố nhân,v.v… của những ngày xưa cũ:

Đâu chung quỳnh tửu, đâu tri kỷ?
Đâu tiếng đàn tranh, đâu cố nhân?

Đó cũng là chuỗi ngày dài lê thê, quay cuồng trong cơn bão lốc của cuộc đời, đếm thời gian, từng mùa thu qua đi, ngắm mây bay, mòn mỏi trong sự chờ đợi, tê tái cả cõi lòng:

Đã mấy mùa thu trong rứt ray
Bên thềm tựa cửa ngắm mây bay
Người xưa nay vắng hồn tê tái
Mòn mỏi từng đêm, đếm tháng ngày…

Rồi bỗng một hôm, người lãng tử ngộ đạo, nhận chân đuợc vạn pháp chỉ là một chữ “Không”:

Rồi bỗng một hôm vãng cảnh không
Vùng trời nhung nhớ của bão giông…

Phật tánh hiển bày, tâm hồn thanh tịnh, lặng lẽ thay cho giông bão của vọng cảnh ngoài đời:

Hốt nhiên tịch lặng lòng thanh thoát
Chợt thấy con tim rực nắng hồng!

Lý “Không” trong kinh Bát Nhã, cho thấy vạn pháp chỉ là do nhân duyên hợp mà có. Vạn pháp không có tự tánh riêng biệt. “Không” ở đây, không phải là phản nghiã của “Có”, Không là sự trống rỗng, như hình ảnh của một cái ly, khi đổ nước vào, cái ly thành có nước, gọi là ly nước. Ly nước là duyên hợp giữa cái ly và nước, ly lại là duyên hợp của khí hydro và oxy,… Vì không có tự tánh riêng biệt, nên các pháp nương nhau mà hiện hữu, luôn luôn thay đổi không ngừng, tự nó không thể tồn tại, nếu không có các pháp chung quanh nương nhờ để hình thành. Vì thế “cảnh không” là ánh bình minh của người giác ngộ trong đêm dài vô minh. Khi biết được “cảnh không” thì còn chi nữa mà tìm kiếm, nhung nhớ, u hoài, tiếc nuối? Đoạn cuối của bài thơ, âm điệu thay đổi từ thấp đến cao, cũng là sự đổi thay trong tâm tư của nguời hành giả, chuyển biến từ vô minh đến giác ngộ, từ giông bão đến tịch lặng, từ tê tái, mòn mỏi, đến thanh thoát trong “Con tim rực nắng hồng” của một chữ “không”, bao trùm cả triết lý Phật giáo cao siêu và mầu nhiệm.

Bên dòng nước chảy

Với tựa đề nguyên tác của bài thơ “Bất Động”, Mộng Lan đã soạn thành ca khúc và đặt tên cho bài hát “Bên dòng nước chảy”. Đây là bài hát thứ 8 trong CD “Mây Hạc Về Đâu”. Vạn pháp biến dịch như một dòng nước, nước trôi, trôi mãi không ngừng, như trong bài thơ “Lên núi Bảo Đài” của Vua Trần Nhân Tông:

Vạn sự nước xuôi nước
Trăm năm lòng ngỏ lòng
Tựa lan nâng sáo thổi
Trăng sáng đầy cõi tâm!

Có những vị Thiền sư nhìn một đoá hoa nở, một tờ lá rơi, một vầng trăng sáng, một dòng nuớc chảy, v.v… hoặc nghe một âm thanh như một tiếng chuông, một tiếng vỗ tay, một viên sỏi rơi” chợt giác ngộ. Bài “Bên dòng nước chảy” là một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, người hành giả nhìn thấy dòng nước, bao nhiêu phiền muộn cuốn trôi, tâm an lạc, bất động:

Đứng bên dòng nước chảy
Trôi đi bao muộn phiền
Nước chảy tâm bất động
Lòng an lạc vô biên

Nhìn dòng nước chảy, người hành giả quán chiếu lẽ vô thường của vạn pháp, trong đó có dòng nước, dòng nước cũng thay đổi, nhưng tâm người hành giả không vấn vương, vọng động:

Đứng bên dòng nước chảy
Quán chiếu lẽ vô thường
Nước chảy hay tâm động
Có gì đáng vấn vương

Có một triết gia đã nói rằng “không bao giờ ta tắm hai lần trong cùng một dòng nước”. Cũng một dòng nước đó, nhưng nước của một sát na trước và một sát na sau đã khác rồi:

Nhìn dòng nước chảy xiết
Như dòng đời biến thiên
Suối thời gian mải miết
Mang theo bao não phiền

Dòng thời gian cũng như dòng nước, trôi chảy liên tục, biến dịch không ngừng. Tâm của chúng sinh, cũng bị cuốn theo dòng đời, dòng nước, chạy theo vọng tưởng, là những tâm niệm hư ảo, chạy theo tướng duyên giả hợp, phân biệt hai bến, nhưng có biết đâu, trong dòng nước “ngược và xuôi nào khác”, quên đi tâm thanh tịnh, không sinh diệt, không giao động, không trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, từ đó, đau khổ, phiền não cũng bặt, dứt. Đây cũng chính là chỗ sở ngộ của Tổ Huệ Năng: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”:

Đứng bên dòng nước chảy
Chảy theo dòng thời gian
Ngược và xuôi nào khác
Nhất tâm chẳng thể bàn.

“Nhất tâm” cũng là “Trăng sáng đầy cõi tâm”, là Phật tâm, là Tánh Giác, v.v… là Căn và Cảnh không dính mắc nhau, đưa đến vô niệm, vô tướng, vô trụ. Được vậy, lòng an lạc vô biên, cũng là Niết Bàn cho người hành giả đạt đạo.

Với tiếng hát trầm ấm, thay đổi theo từng âm độ khác nhau, với tiếng đàn violon trải dài và âm thanh của tiếng nước chảy rì rào, vô tận, tiếng đàn piano khoan thai, dìu dặt, được nhạc sĩ Duy Cường phối âm tài tình, tạo nên một dòng nhạc cuồn cuộn như một dòng nước. Toàn bài thơ, là một dòng thiền an lạc, thanh tịnh, bất động. Đây là một bài thơ “đạt” trong tiếng hát, tiếng nhạc hoà âm phối khí và nội dung Thiền.

Một phút dừng chân

Một trong 4 bài kệ Tứ Sơn, Tứ Sơn là tên bốn ngọn núi tượng trưng cho 4 cửa ải: Sinh, Lão, Bệnh, Tử mà loài người phải trải qua, vua Trần Nhân Tông đã nhắc nhở người khách phong trần phải tỉnh thức, đừng đánh mất mình trong sự hưởng thụ dục lạc và sự lãng quên:

Lưỡi vướng vị ngon, Tai vướng tiếng
Mắt theo hình sắc, Mũi theo hương
Lang thang làm khách phong trần mãi
Ngày hết quê xa vạn dặm trường
Tỷ trước chư hương thiệt tham vị
Nhãn manh chúng sắc nhĩ văn chương
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình

Bài “Một phút dừng chân” cũng là sự tỉnh thức của người hành giả, trong quá khứ, đã mất đi con người thật của mình, tâm tư của người hành giả đầy rẫy những vọng động:

Một phút dừng chân nghe gió hú
Đỉnh đồi Long Bích rộn con tim!
Bao nhiêu dĩ vãng như bừng sống
Chợt biến thành mây bay muôn phương

Cùng với những vọng động, đó cũng là quá khứ nặng nề của những nhân sinh hệ lụy, tạo nên những bất an trong tâm hồn tác giả:

Một phút dừng chân nghe ngàn phương
Gió thu dìu dịu rơi thê lương
Tụ về ôm lấy khung trời cũ
Xa xót hồn ta mấy dặm trường

Người hành giả đã mải mê lang thang, từ đời này qua kiếp nọ. Mỗi lần sinh, là mỗi lần tạo thêm nghiệp, rồi cứ Tử rồi Sinh, nghiệp càng ngày càng chồng chất. Người biết đạo, là người trở về với “bản lai diện mục” của mình, tức “Phật tánh”:

Từ đó ta về với chính ta
Hai bàn tay trắng vỗ lên ca
Vang trong đất trời bao la đó
Ba ngàn thế giới chỉ trong ta

Tổ Huệ Năng đã khai thị cho tu sĩ Huệ Minh, khi Huệ Minh rượt đuổi theo Ngài, để dành y bát làm Tổ. “Không nghĩ Thiện nghĩ Ác, cái gì là bản lai diện mục của Huệ Minh?” Huệ Minh liền giác ngộ. Trong vũ trụ, từ con người đến vạn vật, đều có tướng động, tướng sinh diệt, nguời giác ngộ, là người vượt thoát được ngã chấp, chấp tướng, trở về với thể tánh thanh tịnh, bất sinh bất diệt, còn gọi là Pháp thân, hay “bản lai diện mục” đã có từ vô thủy vô chung nơi tất cả chúng ta.

Trong Kinh Kim Cang, câu chuyện Tổ Huệ Năng sau khi được Hoàng Nhẫn giảng kinh, Ngài chợt giác ngộ kêu lên: “Đâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh! Đâu ngờ tánh mình vốn không sinh diệt! Đâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ! Đâu ngờ tánh mình vốn không dao động!” “Hai bàn tay trắng vỗ lên ca” là tiếng reo vui của người giác ngộ, không kiến giải bằng lời, trong đất trời bao la của tam thiên đại thiên thế giới, chỉ còn có cái tâm hằng giác, hằng tri, bất sinh bất diệt của người hành giả.

Đây là một bài thơ gợi nhớ một trời dĩ vãng xa xôi, trên đỉnh đồi Long Bích, nghe tiếng gió hú bạt ngàn, tiếng gió thu dìu dịu, khung cảnh thê lương, bao la của vũ trụ, đã làm vọng động tâm hồn nhà thơ. Nhưng “trong một phút dừng chân”, nhà thơ quay về với Phật tánh, “” ta về với chính ta”. Nhà thơ chợt giác ngộ. Tiếng vỗ của hai bàn tay: “Hai bàn tay trắng vỗ lên ca” cũng là âm thanh của sự giác ngộ.

Tiếng hát trong và cao vút của Thái Hiền, cùng nghệ thuật hoà âm bằng tiếng sáo vi vu, dìu dặt của Duy Cường, đã diễn tả được nội dung sự giác ngộ, cũng là chủ đề của bài thơ.

****

Trong CD “Mây Hạc Về Đâu”, chúng ta được nghe tiếng hát trong trẻo và cao vút của Thái Hiền, tiếng hát ngọt ngào và trầm ấm của Trọng Nghĩa, chúng ta còn được nghe giọng ngâm thơ trữ tình của Trọng Nghĩa, qua hai bài thơ chủ đề về “Mẹ”, và bài thơ “Khắc Khoải”, chủ đề về nỗi nhớ quê hương của tác giả.

Nếu những bài thơ của nhà thơ, vừa là một tu sĩ, có nội dung thấm nhuần Thiền vị và Đạo vị, Trọng Nghĩa và Mộng Lan, những nhạc sĩ phổ nhạc, đã chấp cánh cho ngôn ngữ thơ của CD “Mây Hạc Về Đâu” bay thật cao, thật xa, trong khung trời Phật pháp.

Ngoài nội dung, chủ đề chính của các bài thơ được phổ nhạc như lý duyên sinh, tánh không, sự vô thường, Phật tánh, sự giác ngộ, niềm an lạc, v.v… CD “Mây Hạc Về Đâu” là sự hài hoà giữa thơ và nhạc, như hai giòng sông hội tụ, thành một nguồn chảy ra biển Pháp chan hoà, thanh thoát. Trong nguồn biển Pháp đó, thơ và nhạc, còn được nâng cao và dàn trải bao la, bởi kỹ năng hoà âm phối khí tài tình của Duy Cường, khiến cho nguồn biển pháp, khi trào dâng như sóng, khi cao vút như mây, khi lặng lờ như nước chảy, khi êm đềm như gió thoảng, khi dồn dập như giông bão, khi trầm hùng như bước quân hành, khi mênh mang chơi vơi như sáo diều, v.v… Tất cả các âm thanh của nhạc, đã bật lên theo nhiều cung bậc, khi cao, khi thấp, tiết tấu khi nhanh, khi chậm, đọng lại trong tâm hồn người thưởng ngoạn một sự chơi vơi kỳ diệu.

Ngôn ngữ tự nó là vô thanh. Tiếng hát và tiếng nhạc, đã làm cho ngôn ngữ sống dậy, nhất là ngôn ngữ thơ. Trọng Nghĩa, Mộng Lan, Thái Hiền và Duy Cường, đã làm cho các bài thơ trong tập thơ “Giọt Sương Huyễn Hoá” của thi sĩ Thích Viên Lý, có một đôi cánh của con chim hoàng hạc, bay về một cõi trời bao la, vô tận, thanh thoát”.

Trong không khí đạo vị của mùa Phật Đản 2548, CD “Mây Hạc Về Đâu” là một món quà nhiều ý nghiã và đầy pháp lạc, cho những ai muốn đi vào thế giới và âm thanh thanh thoát cuả Thiền bằng ngôn ngữ thơ và nhạc. (Cali 06/12/2004 – Diệu Lan -)